Samanta
Đại lão Hòa thượng Dhammananda (1919-2006)

ven-dhammananda

Thích Nguyên Tạng dịch  –  Nguồn: www.daophatngaynay.com

Đại lão hòa thượng K. Sri. Dhammananda (1919-2006)

Để thừa nhận và tuyên dương các công đức hoằng pháp của Hòa Thượng. Dhammananda tại Malaysia, Tăng thống Phật giáo Thái Lan, Đại lão Hòa thượng Amunugama Rajaguru Sri Vipassi Maha Nāyaka Thera ở Chùa Răng Phật (Buddha Tooth Relic), đã phong ban cho Ngài danh hiệu “Tăng thống” (Chief Sangha Nāyaka Thera) của Phật giáo Malaysia vào năm 1965.

Sau khi thiết lập ngôi Tam Bảo tại vườn Lộc Uyển, cổ thành Ba La Nại, Đức Thế Tôn đã gửi 60 vị Tỳ kheo A La Hán đến các tỉnh thành Ấn Độ để giáo hóa chúng sinh, mang ánh sáng của Chánh Pháp để làm an lạc cuộc đời. Trước đó, Đức Phật đã khuyên nhủ các đệ tử nên cống hiến cuộc đời của mình cho mục đích giáo hóa độ sinh: “Hãy ra đi này các Tỳ kheo, vì sự an lạc và hạnh phúc cho số đông, vì sự tốt đẹp cho đời, vì an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Không nên đi hai người cùng một chỗ… (Go forth, O monks, for the benefit and happiness of the many, for the good of the world, for the welfare and happiness of gods and men! Let not the two of you go the same way…)”.

Hơn hai nghìn năm sau, bức thông điệp cao quý ấy vẫn được duy trì và thực hiện tốt đẹp bởi các đệ tử của Ngài, trong đó có những nhà truyền giáo Tích Lan (Sri Lanka) ở thế kỷ XX như: Pháp sư Anagarika Dharmapala, Narada Maha Thera, Sayadaw U Thitilla và Piyadassi Maha Thera,… Đặc biệt tại Malaysia, các nhà truyền giáo tiên phong có Hòa thượng A. Pemaratana – tổ khai sơn chùa Mahindarama, tỉnh Penang, Hòa thượng Tiến sĩ   Sumangala, Hòa thượng K Gunaratana Nāyaka Thera, Hòa thượng Kim Beng, Hòa thượng Chuk Mor và Hòa thượng Dhammananda. Cả ba vị đầu đều đã viên tịch, chỉ còn lại Hòa thượng Dhammananda, 81 tuổi, một người vẫn hoạt động tích cực để chấn hưng Phật Giáo tại Malaysia và cũng được xem là người có công tạo dựng nền tảng cho Phật Giáo Nam Tông tại Malaysia [đến nay, ngài Dhammananda cũng đã viên tịch năm 2006].

Thuở thiếu thời:

Hòa thượng Dhammananda, thế danh Martin (vì ra đời trong thời gian bị Thực dân Anh đô hộ, nên phải dùng tên tiếng Anh), sinh ngày 18 tháng Ba năm 1919 trong một gia đình trung lưu, cha là cụ ông K. A. Garmage, tại làng Kirinde, tỉnh Matara, miền Nam Tích Lan (Ceylon), Ngài là người con trưởng trong một gia đình có sáu anh chị em.

Ngài bắt đầu học tiểu học năm 7 tuổi tại trường làng Kirinde. Không giống những ngôi làng khác ở Tích Lan, Kirinde chưa bị tác động bởi chiến dịch truyền đạo của Ky Tô giáo. Nhờ thế, Phật Giáo vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh hoạt của người dân và ngôi chùa địa phương nơi đây. Bên cạnh người mẹ mộ đạo, ngài được người cậu ruột là Tăng sĩ trụ trì ngôi chùa của địa phương này giúp đỡ và hướng dẫn ngài học Phật. Chẳng bao lâu ý tưởng xuất gia học đạo phát khởi trong tâm hồn của ngài.

Năm 12 tuổi, Ngài xuất gia làm chú tiểu (sāmaṇera) cùng Hòa thượng K Dhammaratana Maha Thera ở chùa Kirinda với pháp danh là Dhammananda – Pháp Hỷ, nghĩa là “người chứng nghiệm hạnh phúc qua giáo Pháp” (one who experiences happiness through the Dhamma). Tiếp đó, Ngài được gửi vào trường để học Phật Pháp trong mười năm trước khi Ngài đăng đàn thọ Tỳ kheo giới (Bhikkhu) vào năm 22 tuổi (1940). Hòa thượng đàn đầu trong giới đàn này là Trưởng lão K. Ratanapala Maha Thera tại chùa Kotawila.

Tu học tại Tích Lan:

Ngài đã ghi danh vào học trường Dhammarama Pirivena, rồi Học viện Phật giáo Vidyawardhana tại thủ đô Colombo, niên khóa 1935-1938. Giáo sư chính thức của Ngài là Hòa thượng Kotawila Deepananda Nāyaka Thera. Năm 1938, Ngài tốt nghiệp tại trường này và tiếp tục học tại trường Vidyalankara Pirivena, ở Peliyagoda, là một đại học Phật giáo rất nổi tiếng ở Tích Lan vào thời bấy giờ. Trong bảy năm lưu học này ngài đã học Pāḷi, Sanskrit, Triết học, Tam Tạng Kinh Điển và nhiều môn học xã hội khác để trang bị cho chương trình giáo dục phổ cập và hoằng dương Phật Pháp của ngài về sau. Ở tuổi 26, Ngài đã hoàn tất chương trình học tại nơi đây.

Bảy năm được đào tạo trong môi trường Phật học và lối sống nghiêm khắc của Tu viện tại đây đã mang lại những hữu ích về sau trong sứ mạng truyền giáo của Ngài. Vị Pháp sư tinh thần của Ngài tại đại học này là Trưởng lão Lunupokune Sri Dhammananda Nāyaka Thera, một bậc học giả uyên bác của Phật giáo Tích Lan.

Tu học tại Ấn Độ: 

Vào năm 1945, Hòa thượng Dhammananda được đại học Hindu, Ấn Độ cấp học bổng và Ngài đã lên đường du học. Bạn cùng khóa với ngài lúc ấy hiện nay còn Hòa thượng P. Pannananda Nāyaka Maha Thera, (đang ở Tích Lan); Hòa thượng Tiến sĩ. H. Saddhatissa Maha Thera (ở Luân đôn); Hòa thượng Tiến sĩ U. Dhammaratana (Chủ tịch Hội Đại Bồ Đề, Ấn Độ) và Hòa thượng Tiến sĩ Amritananda Thera (Chủ Tịch Hội Đồng Tăng Già Nepal). Sau bốn năm học tại đây, Hòa thượng Dhammananda đã tốt nghiệp với tấm bằng Cao học về Triết học Ấn Độ vào năm 1949. Một trong số những giáo sư nổi tiếng của Ngài tại đại học này là cố Tiến sĩ S. Radhakrishnan, cũng là vị Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Ấn Độ.

Hoằng Pháp tại quê nhà:

Sau khi tốt nghiệp, Ngài trở về Tích Lan và mở trường Phật giáo Sudharma tại Kotawila để giúp cho dân chúng học Phật. Ngài cũng cho phát hành một tờ báo tiếng Tích Lan để phổ biến giáo lý. Những lớp giáo lý, những bài thuyết pháp và nhiều hoạt động giáo dục khác của ngài đều truyền cảm hứng tốt đẹp cho dân làng quy hướng về Chánh Pháp. Trong số những vị phụ giúp Ngài lúc đó có Đại đức K.Pemaloka và Đại đức K. Hemasiri, những người về sau vẫn theo Ngài đến Malaysia để tiếp tục công việc truyền giáo tại Brickfields.

Sứ mạng truyền giáo tại Malaysia:

Năm 1952, Hòa thượng K. Sri Pannasara Nāyaka Thera, Viện trưởng Tu viện Vidyalanakara Pirivena, đã nhận một lá thư từ Hội Phật giáo Sasana Abhiwurdhi Wardhana, Malaysia. Hội này có một ngôi chùa ở Brickfields, được xem là một Hội Phật giáo lâu đời nhất trong cộng đồng Tích Lan tại Malaysia. Hội muốn thỉnh cầu một vị Tăng Malaysia để hướng dẫn đời sống tâm linh cho cộng đồng Tích Lan tại xứ sở này.

Hòa thượng Dharmananda với chư tăng Malaysia.

Trong 400 tăng sĩ ở tu viện Vidyalankara Pirivena, Tỳ kheo Dhammananda đã được chọn để đi hoằng Pháp tại Malaysia. Ngài đã sẵn lòng tiếp nhận lời thỉnh cầu này dù Ngài rất muốn ở lại quê nhà để hoằng Pháp. Tuy nhiên Ngài ý thức được rằng tại quê nhà còn nhiều vị tăng khác có thể làm công việc hoằng Pháp, trong khi ấy tại Malaysia, nhu cầu chấn hưng Phật pháp là việc khẩn thiết. Vì vào thời điểm lúc đó, tình hình Phật giáo tại Malaysia, dù có nhiều chùa người Trung Hoa, nhưng phần lớn không giảng dạy giáo lý và tổ chức tu học mà chỉ nặng phần lễ nghi và thờ cúng. Do đó, Hòa thượng Dhammananda quyết định lên đường trong một thời gian ngắn. Ngài đã xuống tàu thủy vào sáng ngày mùng 2 tháng Giêng năm 1952. Ba ngày sau, con tàu trở Ngài đã cập cảng Penang, miền Bắc Malaysia.

Sự nghiệp hoằng Pháp tại Malaysia:

Khi đến Penang, Ngài lưu trú tại chùa Mahindarama trước khi đón máy bay đến chùa Brickfields ở Kuala Lumpur. Tháng Ba năm 1952, Ngài nhận được một lá thư của Tổng Toàn quyền Anh tại Malaysia, ông Gerald Templer, yêu cầu được gặp Ngài để tìm hiểu xem Phật pháp có mối liên hệ nào với hoạt động chính trị không. Vì nhiều nguồn tin khi đó cho rằng sẽ có những cuộc nổi dậy chống chính quyền từ các cộng đồng Phật giáo người Hoa. Những ý tưởng sai lầm về Phật giáo của ông Toàn quyền Gerald đã được Hòa thượng Dhammananda đả thông và hướng dẫn ông ta trở về nghiên cứu Đạo Phật. Ngài nói với ông ta rằng: “Đạo Phật là một tôn giáo từ bi và không bạo động vì Đức Phật hướng dẫn con người sống trong hòa hợp và hòa bình với chính mình và người khác.” (Buddhism is a non-violent and compassionate religion taught by the Buddha to show Man to live in peace and harmony with oneself and others). Hòa thượng Dhammananda nhấn mạnh thêm rằng Đạo Phật dạy cho con người tu tập tâm linh và sống có đạo đức, không phải một phong trào chính trị. Khi biết rõ Hòa thượng Dhammananda không có ý đồ hoạt động chính trị, Toàn quyền Gerald đã mời Hòa thượng giúp đỡ chính quyền về mặt tâm lý để trấn an quần chúng, nhất là cộng đồng di dân người Hoa tại Malaysia, vì chính quyền hồ nghi rằng cộng đồng này đang có khuynh hướng hoạt động chính trị chống chính quyền.

Hòa thượng Dhammananda đã nắm ngay lấy cơ hội để mở rộng chương trình hoằng Pháp của Ngài trên khắp Malaysia. Ngài đã giúp cho Hội Phật giáo Sasana Abhiwurdhi Wardhana và Trung tâm Phật giáo Selangor cũng như Hội Liên Hữu Phật giáo Thế giới tại Malaysia đẩy mạnh công tác truyền giáo. Kết quả cho thấy cộng đồng người Hoa đã quy hướng về với đạo Phật rất nhiều.

Trong hai thập niên 1950 và 1960, Phật giáo Malaysia rất nghèo nàn ở hầu hết các cộng đồng. Phật giáo trong thời kỳ này chỉ là một vỏ bọc đầy những sinh hoạt mê tín dị đoan tràn khắp Malaysia. Phần lớn người Hoa trí thức đều chán ngán và bỏ theo đạo Ky Tô (Thiên Chúa giáo) vì họ nhìn thấy Ky Tô giáo có nhiều sinh hoạt tôn giáo tích cực, rõ ràng, hợp lý hơn được các nhà truyền giáo nước ngoài mang tới.

Hòa thượng Dhammananda cố gắng loại bỏ những quan điểm sai lầm về Phật giáo trong tâm trí của quần chúng ở Malaysia. Ngài đã phát động một phong trào diễn thuyết Phật giáo rầm rộ trên toàn Malaysia, phụ tá của Ngài bây giờ có các vị Tỳ kheo như K Gunaratana, Chuk Mor và Tỳ kheo Tiến sĩ người Mỹ Sumangalo đã làm cho phong trào ngày càng thêm thu hút cùng nhiều kết quả khả quan.

Sự phát triển của tổ chức hoằng Pháp:

Năm 1961, Hòa thượng Dhammananda đã thảo luận với các nhà lãnh đạo cư sĩ Phật giáo Malaysia để thành lập một tổ chức truyền bá lời Phật dạy nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết của Malaysia. Năm 1962, Hội Truyền bá Chánh pháp (Buddhist Missionary Society, viết tắt là BMS) đã được thành lập tại chùa Phật giáo Brickfields với các mục tiêu: học hỏi, quảng bá Phật giáo và văn hóa Phật giáo; khuyến khích và cổ vũ mọi người học hỏi và hành trì Phật Pháp; in ấn và phát hành Kinh sách Phật giáo; cung cấp những pháp môn phù hợp để mọi người thực hành; an ủi, hướng dẫn, giúp đỡ mọi Phật tử trong các trường hợp đau bệnh hay bị chết, v.v…

Hòa thượng Dhammananda nghĩ rằng một trong những phương cách để truyền bá Phật giáo là viết sách về nhiều lĩnh vực khác nhau để các tín đồ có thể nương theo đó hành trì trong đời sống hằng ngày. Vì thế Ngài bắt đầu viết những bài báo, rồi những cuốn sách nhỏ bỏ túi, nội dung của sách phản ánh những thắc mắc của người Malaysia. Một trong những cuốn sách đầu tiên là hướng dẫn cách trì tụng Kinh tiếng Pāḷi của Đạo Phật sao cho tương hợp với thời đại khoa học và tâm lý học. Từ đó Ngài tiếp tục viết nhiều tác phẩm khác để đáp ứng cho nhu cầu học Phật của tín đồ tại Malaysia. Tính đến nay Ngài đã viết khoảng 50 tác phẩm, trong số này có nhiều tác phẩm đặc sắc như: “Vì sao tin Phật?” (What Buddhists believe?); “Cách sống không sợ hãi và lo âu” (How to live without fear and worry); “Bạn có tin tái sinh không?” (Do you believe in Rebirth); “Hôn nhân hạnh phúc” (A happy married life); “Thiền – Con đường duy nhất” (Meditation, the Only way); “Kho báu của Chánh Pháp” (Treasures of the Dhamma), v.v… Các tác phẩm này đã nhanh chóng thu hút giới Phật tử Malaysia và đến nay đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới như: Ấn Độ, Nam Dương, Triều Tiên, Mỹ, Nam Phi, Bangladesh, Hòa Lan, Việt Nam, v.v….

Đây là lần đầu tiên nền giáo dục Phật giáo bằng tiếng Anh được phổ biến trong giới Phật tử ở Malaysia, trước đó chỉ có những Kinh sách được viết bằng tiếng Trung Quốc. Sự tác động mạnh này nhanh chóng ảnh hưởng đến giới thanh thiếu niên Malaysia. Kết quả, Hòa thượng Dhammananda đã nhận được hàng núi thư từ mọi giới, đặc biệt là học sinh và sinh viên để tìm hiểu về Phật học.

Mặc dù không phải là một Pháp sư hùng biện, nhưng Hòa thượng Dhammananda đã làm say đắm giới trẻ với những bài giảng mang tính khoa học, trong sáng và rõ ràng của Ngài. Điều này đã giúp cho nhiều hội đoàn thanh niên Phật tử ra đời trong thập niên sáu mươi. Rất nhiều thanh niên do đã nghe giảng hoặc đã đọc sách của Ngài mà quy hướng về với Chánh Pháp.

Ngoài những ảnh hưởng từ xã hội, Hòa thượng Dhammananda cũng có công đưa Phật giáo vào trong học đường Malaysia. Hòa thượng Dhammananda đã kết hợp với Thượng tọa Tiến sĩ Sumangalo, một Tăng sĩ người Mỹ, thành lập một Học viện Phật giáo để làm việc với Đại học Malaya, Đại học Sains Malaysia, Đại học Pertanian, Cao đẳng Kỹ thuật Malaysia, Viện Ngôn ngữ Malaysia, Đại học Sư phạm Malaysia, Cao đẳng Tunku Abdul Rahman, Cao đẳng Quân sự Hoàng gia (Royal Military College) và gần đây nhất là Đại học Utara Malaysia ở Kedah. Tất cả sinh viên của các trường trên đều có những giờ học về căn bản giáo lý Phật giáo do Hòa thượng Dhammananda và nhiều Pháp sư khác giảng dạy.

Để khuyến khích và cổ động tầng lớp trẻ học và làm việc theo lời Phật dạy, tổ chức của Ngài đã thu nhận giới trẻ vào làm việc cho các cơ sở hoằng Pháp, Học viện, in ấn và phát hành kinh… Đã có rất nhiều cư sĩ tham gia và trở thành nhà lãnh đạo các hội đoàn cư sĩ Phật tử, nổi bật trong số đó hiện nay có những đạo hữu như: Mess Tan Gin Soon, Leong Kok Hing, Ang Choo Hong, Charlie Chia và Victor Wee, tất cả đều chịu ảnh hưởng về đạo đức và tác phong làm việc của Hòa thượng Dhammananda.

Sự thừa nhận và tán dương về công hạnh hoằng Pháp:

Để thừa nhận và tuyên dương các công đức hoằng Pháp của Hòa thượng  Dhammananda tại Malaysia, Tăng thống Phật giáo Thái Lan, Đại lão Hòa thượng Amunugama Rajaguru Sri Vipassi Maha Nāyaka Thera ở Chùa Răng Phật (Buddha Tooth Relic), đã phong ban cho Ngài danh hiệu “Tăng thống” (Chief Sangha Nāyaka Thera) của Phật giáo Malaysia vào năm 1965.

Ngài cũng được cung thỉnh vào Ban chứng minh cho Đại hội lần thứ 9 của Hội Liên Hữu Phật giáo Thế giới (World Buddhist Followship) tổ chức tại Kuala Lumpur từ ngày 13 đến ngày 20 tháng Tư năm 1969. Tại đại hội, Ngài cũng được tuyên dương là một danh tăng của Phật giáo Malaysia.

Vào năm 1970, Hòa thượng Dhammananda khởi xướng và làm cố vấn tinh thần cho Hội Thanh niên Phật tử Malaysia (The Young Buddhist Association of Malaysia – YBAM). Đây là một tổ chức đại diện cho tất cả các hội đoàn Phật tử trẻ tuổi tại Malaysia, hiện nay vẫn còn hoạt động rất mạnh.

Từ năm 1970 đến 1975, Hòa thượng Dhammananda khởi đầu những chuyến đi hoằng Pháp thế giới. Trước hết, ngài đến Anh quốc giảng tại Đại học Lancaster, Đại học Hull, Đại học Manchester và Đại học Oxford. Sau đó, Ngài đến Hoa Kỳ và được thỉnh giảng tại Đại học Phật giáo Dharma Realm và Đại học Oriental Studies; cũng trong dịp này, Đại học Phật giáo Dhamma Realm đã phong tặng Ngài bằng Tiến sĩ danh dự (Honorary Doctor of Philosophy degree) để ghi nhận và tán thán công hạnh hoằng Pháp cùng những công trình sáng tác của ngài. Bằng cấp này cũng được các đại học khác phong tặng cho ngài: Đại học Oriental Studies năm 1975, đại học Nalanda ở Pháp năm 1976 và đại học Benares Hindu, Ấn Độ năm 1980. Vào năm 1991, đại học ở Sri Lanka đã tặng Ngài bằng Tiến sĩ văn chương (D. Litt.) công nhận những tác phẩm Phật học giá trị của Ngài đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho nền giáo dục tôn giáo tại Tích Lan.

Thiết lập chương trình đào tạo tăng tài ở Malaysia: 

Tháng Mười hai năm 1976, Hòa thượng Dhammananda đã khởi xướng và trở thành Giám đốc chương trình Đào tạo tăng tài cho Phật giáo Malaysia, chương trình đã được áp dụng và thành công đáng kể trên khắp Malaysia, ngay cả ở Singapore cũng làm theo mô hình này. Đến nay chương trình vẫn được duy trì và số thanh niên Malaysia phát tâm xuất gia gieo duyên ngày càng đông.

Hòa Thượng Dharmananda đang giảng Pháp cho Tăng sinh Malaysia.

Vào ngày 25 tháng Ba năm 1977, Hòa thượng Dhammananda đã thành lập Viện Phật Học Paramadhamma ở Tích Lan để tăng sĩ khắp nơi trên thế giới về tu học. Chương trình đào tạo từ ba đến năm năm, hoặc có những khóa ngắn hạn cho các tăng sĩ hoặc cư sĩ lớn tuổi để đưa đi hoằng pháp ngay sau khóa học.

Những đóng góp cho xã hội:

Ngoài những hoạt động Phật sự, Hòa thượng Dhammananda còn có nhiều đóng góp vào việc phát triển cộng đồng. Năm 1960, Ngài là một trong những vị lãnh đạo Phật giáo Malaysia đứng lên đề nghị Chính phủ Malaysia tuyên bố ngày Lễ Phật Đản là ngày nghỉ của toàn dân. Lời yêu cầu đã được chấp thuận và vẫn duy trì cho đến ngày nay. Giữa những năm 1960, Ngài hoạt động tích cực với Tổ chức Liên Tôn giáo Malaysia (Malaysian Inter-Religious Organisation – MIRO) để kêu gọi các tôn giáo có mặt ở Malaysia nên sinh hoạt trong sự hài hòa và tương kính lẫn nhau.

Năm 1984, Ngài là một trong những thành viên sáng lập của Hội đồng Tư vấn Tôn giáo (Religious Consultative Council), bao gồm: Phật giáo, Hồi giáo, Ky Tô giáo để giúp cho chính quyền có những chính sách đúng đắn đối với các tôn giáo. Do những hoạt động tích cực đóng góp cho xã hội này mà ngày 7 tháng Sáu năm 1991, Hoàng đế của Malaysia đã phong tặng cho Ngài tước vị cao quý “Johan Setia Mahkota”.

Sự nghiệp trước tác:

Ngoài những thời thuyết giảng giáo lý sâu sắc, rõ ràng và dễ hiểu, Hòa thượng Dhammananda còn cống hiến cho hàng vạn độc giả trên khắp thế giới qua những tác phẩm Phật học của ngài. Từ những tập sách nhỏ bỏ túi cho đến những cuốn sách dày hàng trăm trang với nội dung phổ cập cho mọi tầng lớp, từ học giả uyên bác cho đến học sinh tiểu học đều có thể đọc và tiếp nhận lời dạy của ngài. Qua ngòi bút của ngài, giáo lý thâm diệu của Đạo Phật trở nên dễ hiểu, gần gũi và giải quyết thỏa đáng từng vần đề của đời sống hiện tại. Các tác phẩm của ngài đã được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, không những được Phật tử tìm đọc mà cả những người không phải là Phật tử cũng say mê không kém. Sau đây là một số tác phẩm của ngài:

Sao phải lo lắng! (Why worry!)

Hôn nhân hạnh phúc (A Happy Married life)

Tại sao phải có Đạo Phật? (Why Buddhism?)

Tại sao phải có Tôn giáo? (Why Religion?)

Vì sao tin Phật (What Buddhists believe?)

Nhân loại hướng về đâu (Whither Mankind)

Hãy tìm hiểu tôn giáo này (What is this Religion?)

Kho báu của Chánh pháp (Treasure of the Dhamma)

Phật giáo như một Tôn giáo (Buddhism as a Religion)

Kinh Nhật Tụng của Phật Tử (Daily Buddhist Devotions)

Bạn có tin tái sinh không? (Do you believe in Rebirth?)

Thiền – Con đường duy nhất (Meditation, the only way)

Cẩm nang của Phật tử (Handbook of Buddhists)

Tôn giáo trong thời đại khoa học (Religion in a Scientific Age)

Những viên ngọc của trí tuệ Phật giáo (Gems of Buddhist Wisdom)

Tại sao phải có bao dung về Tôn giáo? (Why Religion tolerance?)

Địa vị của Nữ giới trong Phật giáo (Status of Women in Buddhism)

Các vấn đề của xã hội hôm nay (Human life and Problems)

Phật giáo và những nhà Tư tưởng Tự do (Buddhism and the Free Thinkers)

Những nhân vật vĩ đại trong Phật giáo (Great personalities on Buddhism)

Cách sống không sợ hãi và lo âu (How to live without fear and worry)

Phật giáo dưới con mắt của các nhà trí thức (Buddhism in the Eyes of Intellectuals)

Nguyên tắc đạo đức của Phật giáo đối với phẩm cách của con người (Buddhist Principles for Human Dignity).

Kinh Pháp Cú với tranh minh họa và truyện tích (The Dhammapada with illustrations and stories)

  Mục đích cuộc đời và đường lối sống. Hòa thượng Dhammananda. Thích Tâm Quang dịch.

  Làm sao thực hành giáo lý của Đức Phật. Hòa thượng.Dhammananda. Thích Tâm Quang dịch.Việt

  Một tôn giáo hiện đại.  Hòa thượng Dhammananda. Thích Nguyên Tạng dịch.